Sáng ngày mùng một Tết năm Bính Dần (1986), trời còn tối, cảnh vật còn lờ mờ ẩn hiện dưới ánh sao đêm. Gió núi lành lạnh từng cơn thổi nhẹ. Tất cả tăng ni Phật tử y áo chỉnh tề chuẩn bị đến thất của Thầy để làm lễ chúc thọ. Thất của Thầy nằm trên mỏm núi khác và cao hơn thiền đường chừng 20 thước.
Ði đầu là thầy Phước Hảo trụ trì của tu viện. Ðoàn người lần bước trên những bậc thang bằng đá, tuy gồ ghề nhưng cũng dễ đi. Quang cảnh trên đây rất đẹp mắt và nên thơ, từ chỗ thất nhìn xuống thấy rõ khuôn viên của thiền viện. Xa xa phía dưới là thị xã Vũng tầu. Xa hơn nữa là biển cả với một bầu trời mênh mông bát ngát. Những ngọn đèn li ti của ghe thuyền đánh cá long lanh trong đêm chẳng khác nào hạt chuỗi kim cương.
Xin mời quý vị nghe bài giảng.
Nam Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật.
Ðể nhắc nhở quý vị năm mới về sự tu hành thì tôi sẽ nói một câu chuyện. Qua năm Bính Dần này quý vị tinh tấn tu hành đúng theo tinh thần Thiền Tông. Cho nên tôi sẽ nhắc và nói rõ về cái "Tín Tâm". Bởi vì tất cả người tu chúng ta, phần nhiều tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, mà ít có tin cái tâm của mình. Bởi vậy nên hôm này tôi nói thẳng về cái phương pháp hay là đường lối để làm sao mình nhận hiểu, tin được cái tâm của mình.
Vậy muốn "Tín Tâm", hỏi tâm là cái gì? Bởi vì xưa nay ai cũng hay nói: "Tôi không cần đi chùa, tôi chỉ tu tâm cũng được rồi." Nhưng mà tâm là gì để mà tu? Ðó là điều mà nhiều người muốn biết, nhưng không biết rõ. Hoặc trong lúc nói chuyện với nhau, người này bảo người kia rằng: "Tâm tôi nghĩ thế này, tâm tôi tính thế kia." Thì như vậy tâm là cái "nghĩ", "tính" hay là cái gì khác nữa? Ðúng ra chữ tâm theo nhà Phật có nghĩa là để chỉ cho cái "biết". Bởi vì biết nghĩ, biết tính, biết tốt, biết xấu, biết dở, biết hay, tóm lại mọi cái thuộc về lãnh vực biết đó đều gọi là tâm. Bởi vậy nếu mà chúng ta không phân biệt rành rẽ thì chúng ta chỉ thấy tâm là cái biết phân biệt mà quên tâm còn là cái biết thầm lặng, sáng suốt không có phân biệt. Do đó nên trong nhà Phật chia tâm ra làm nhiều thứ để giải thích. Ở đây, tôi tổng quát chia ra làm hai loại: Loại thứ nhất là Tâm Vọng, loại thứ hai là Tâm Chân.
Tâm Vọng là cái gì? Tức là những cái biết thuộc về suy nghĩ, thuộc về phân biệt. Ðó gọi là Tâm Vọng. Tâm là cái biết, mà cái biết có suy tính, cái biết phân biệt đó là động. Cho nên gọi là vọng. Vọng là dối chứ không có thật. Nó có rồi mất. Sinh rồi diệt, chứ không lâu cho nên mới là vọng. Còn cái biết mà thường hằng có, không đổi thay, bất sinh bất diệt (tức không động), không có tướng trạng thì gọi là Tâm Chân hay Chân Tâm. Thì như vậy, cái Tâm Chân thật đó là chỉ cho cái biết không bao giờ đổi thay, không bao giờ sinh diệt. Mà người đời chúng ta ai cũng chỉ nhận được cái biết, tức là cái biết suy tính về phân biệt, mà ít ai nhận được cái biết thầm lặng hằng còn mà không có sinh diệt. Bởi không nhận được điều đó nên chỉ biết cái tâm hư dối, cho là tâm thật; còn cái tâm chân thật lại quên đi.
Vì vậy cho nên trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Ðức Phật có dậy: "Này các Tỳ Kheo, các ông chớ nên tin cái tâm của các ông. Chỉ khi nào chứng A La Hán mới nên tin." Như vậy quý vị thấy, cái tâm đó là cái tâm hư dối, mà tin nó là không được. Bởi vì nó đổi thay, tức là sinh diệt. Mà tin cái đổi thay sinh diệt thì thế nào mình cũng bị biến đổi, bị sinh diệt. Khi chứng A La Hán thì cái tâm mới là cái biết. Cái biết đó không còn sinh diệt nữa. Vì vậy cho nên lúc đó mới đáng tin.
Ðức Phật muốn cho chúng ta đừng lầm lẫn hai cái tâm: tâm phân biệt hư dối và tâm lặng lẽ chân thật. Nếu mà chúng ta lấy cái hư dối mà cho là thật thì tự chúng ta bị lầm, bị mê, rồi đi trong sinh tử. Muốn biết rõ cái tâm chân thật thì phải làm sao? Bởi vì những vị tu ngộ đạo thì tự nhiên họ thấy, họ nhận ra. Còn nếu mà chưa ngộ đạo thì khó mà nhận ra, khó mà biết được. Thì giờ đây tôi chỉ y theo những lời dậy của Phật, của Tổ, để quý vị khả dĩ có thể nhận thấy được phần nào.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật thường dùng hình ảnh, Ngài nói rằng có một cái gọi là "Nhất tinh minh sinh lục hòa hợp". Tinh là ròng rặt, Minh là sáng suốt. Tức là cái sáng suốt một cách thuần túy đó, sinh ra sáu cái hòa hợp. Sáu cái hòa hợp là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tại sao gọi là sáu cái hòa hợp? Vì mắt mà muốn thấy thì phải có con mắt và có cảnh bên ngoài. Rồi cái thức theo đó mà phân biệt. Vì vậy cái biết của mắt phải do đủ duyên hòa hợp mới có. Còn cái ý suy nghĩ thì cũng có cái cảnh bên ngoài, có danh có tướng, rồi theo đó mà suy nghĩ. Ðó cũng là chạy theo duyên, theo cảnh. Nhưng mà trong cái chạy theo duyên theo cảnh đó, lại có cái ngầm ngầm, không theo mà chúng ta không thấy. Vì vậy cho nên chư Phật, chư Tổ luôn luôn bảo chúng ta phải khéo, đừng có lầm chạy theo cảnh mà phải thấy có cái thật ngầm ở trong đó.
Vì vậy cho nên chư thiền sư hay nói: Phải như con ngỗng chúa, khi uống sữa hòa với nước, thì chỉ uống sữa mà chừa nước lại. Chuyện đó là dễ hay khó? Cũng như vậy, ở sáu căn của mình, trong cái chỗ hòa hợp đó, mình phải làm sao nhận ra được cái thuần tuý, tinh anh mà đừng theo cái hư dối phân biệt. Ðó là cái khôn ngoan khéo léo mà mình phải làm. Cho nên người tu phải khéo nhận ra nơi mình có cái tinh minh sáng suốt. Cái sáng suốt đó phát ra ở sáu căn của mình gọi là sáu cái hòa hợp. Khi mắt nhìn cảnh, tai nghe tiếng, thì đừng có lệ thuộc vào cái sinh diệt bên ngoài, cái sinh diệt của vọng tâm. Mà nhờ sống được với cái chân tâm. Ðó là cái khôn ngoan như con ngỗng chúa uống sữa mà bỏ nước lại. Hình ảnh này trong kinh Lăng Nghiêm do các thiền sư diễn tả lại bằng hình thức lạ lùng. Mới nghe thì khó hiểu, nhưng đến lúc thâm nhập hiểu được thì lại rất là hay....
Hiểu như vậy mình mới thấy rằng từ Phật tới Tổ đều thấy rõ nơi mình có một cái chân thật. Rồi từ cái chân thật đó theo duyên mà phát ra sáu cửa. Bởi vậy cho nên có đủ tâm chân thật mà mình không nhận, không biết, lại tưởng như là không có.
Ðến chuyện một tổ sư Ấn Ðộ là ngài Ba la Ðề. Vua diện kiến hỏi ngài về Phậr Tánh. Ngài trả lời: "Nơi thai gọi là thân. Ở đời gọi là người. Nơi mắt gọi là thấy. Nơi tai gọi là nghe. Nơi mũi phân biệt các mùi. Nơi lưỡi đàm luận. Nơi tay nắm bắt. Nơi chân chạy nhẩy. Biến hiện thì khắp thế giới, thu lại thì chỉ trong hạt bụi. Người hiểu cho là Phật Tánh, người không hiểu gọi là tinh hồn." Quý vị thấy Ngài có dấu diếm không? Như vậy thì ở nơi tay, nơi mũi, nơi lưỡi ... đều có mang tính chất Phật. Nên trong kinh Pháp Hoa mới nói là "Tri Kiến Phật". Hiểu thì như con ngỗng chúa biết lọc sữa uống mà chừa nước lại. Không hiểu thì như mình uống luôn cả nước, lọc không được.
Chư Tổ đã trình bầy thật rõ ràng, không dấu diếm một chút nào. Nhưng vì chúng ta mê muội nhiều đơì nên nghe dường như hiểu, mà không sống theo được. Ðó là cái mê lầm muôn đời của chúng ta. Thiền sư Ðại An còn nói rất rõ là: "Cả thẩy các ngươi, mọi người đều có viên ngọc lớn vô giá. Từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ. Từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh tất cả âm thanh. Sáu cửa ngày đêm phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam muội. Các ngươi không biết lại nhận bóng trong thân tứ đại."
Nói chung là mình có một hòn ngọc quý. Nhà thiền gọi là hòn ngọc quý. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Nhất Tinh Minh. Nhất Tinh Minh hay là hòn ngọc quý là một, nhưng tuỳ theo cái duyên mà phóng ra sáu cửa. Khi nó phóng ra sáu cửa thì ở tai nhận lãnh âm thanh, ở mũi nhận lãnh mùi hương. Thì như vậy nó hằng phóng quang ra sáu cửa mà mình không biết. Bởi không biết cho nên mình nhận cái bóng trong thân tứ đại. Cái bóng tức là những cái vọng tưởng suy nghĩ. Khi suy nghĩ, chúng ta chỉ suy nghĩ được những cái đã nghe tên, đã thấy tướng. Còn những cái chưa nghe tên chưa thấy tướng thì suy nghĩ không được. Như vậy có danh có tướng là có cái bóng reo rắc vào tâm hồn mình, rồi từ cái bóng đó mình duyên theo đó mà khởi ra suy nghĩ. Như vậy nó là cái duyên cái bóng mà ta suy nghĩ chứ không phải thật.
Còn cái hằng nghe thấy thì có lúc nào vắng hay không? Cái thấy cái nghe bao giờ mà vắng mất. Nhưng suy nghĩ thì chỉ có khi nào duyên theo bóng của sự vật bên ngoài mới có cái nghĩ. Vì vậy cho nên nơi mình quên đi, mình không nhận được cái chân thật phóng ra từ sáu cửa đó. Mà chỉ nhận cái bóng ở trong thân tứ đại, tức là cái vọng tưởng của mình. Thì như vậy, tất cả chúng ta bây giờ sống bằng cái tinh thần hay cái tâm của mình? Nếu là cái tâm thì là cái tâm nào? Là cái tâm duyên theo bóng. Mà đã chạy theo bóng, duyên theo bóng thì đó không phải là thật. Mà mình cả ngày cứ sống theo cái bóng đó. Sống theo cái bóng không thật thì sẽ bị dẫn đi trong cái không thật, tức là đi trong sinh tử luân hồi, như mộng huyễn. Còn nếu mình sống chân thật thì cái vòng sinh tử luân hồi mộng huyễn không còn nữa. Ðó chính là cái gốc của sự tu.....
Chúng ta làm sao ứng dụng được những điều Phật tổ dậy dỗ để mình trở lại cái tâm chân thật của mình. Hãy nhớ cái thân này là tứ đại hòa hợp, cái tâm vọng tưởng đó là duyên theo bóng dáng sáu trần. Mà cái gì hợp thì cái đó phải tan, cái duyên theo bóng dáng là cái hư dối, cái sẽ tan và cái hư dối lại chấp thiệt là mình. Còn cái chưa bao giờ sinh diệt trùm cả hư không mà mình lại bỏ quên. Như vậy có chăng đúng như trong kinh Pháp Hoa mà nói chàng Cùng Tử lẽ ra nhận mình là con ông trưởng giả thì kho báu đầy nhà, mà lại không chịu nhận, đi hốt phân sống qua ngày. Hình ảnh đó mới nói lên cái tâm điên khùng của chúng ta. Có cái chân thật chúng ta có quyền hưởng trọn vẹn mà không chịu hưởng để rồi đi nhận một cái rất là tầm thường mà hài lòng, mà hãnh diện.
Như vậy những người chạy theo cái tầm thường mà lại hãnh diện thì ta thấy họ thật là đáng thương. Nếu họ ngồi ăn một mân cơm đầy những thứ cao lương mỹ vị thì khi mới nhìn thấy họ sang, họ ăn ngon. Nhưng mà lúc đầy bụng khó tiêu rồi mới thấy khổ, rồi một lát ra hôi hám, có gì đâu! Vậy mà hài lòng, vậy mà quý kính. Ðó thật là khờ dại. Còn cái chân thật thanh tịnh sẵn sàng đó mà lại bỏ quên. Như vậy chúng ta tu cốt là phải trở về cái chân thật đó, sống được với cái chân thật đó mới là biết đạo, mới thật là người tu. Chứ còn chạy theo cái bóng dáng bên ngoài, dù được bao nhiêu, dù hay bao nhiêu cũng là ảo ảnh mà thôị cái chân thật đó gọi là chân tâm hay là Phật Tánh....
Như vậy để thấy rằng chư Phật, chư Tổ đều chỉ rõ chỗ yếu điểm tu hành cho mình đó. Cái yếu điểm đó là tâm đừng chạy theo cảnh. Tâm không chạy theo cảnh thì tâm cảnh như như. Mà tâm cảnh như như thì đó là đạo bồ đề hiện tiền. Như vậy khi muốn thành Phật, Phật cũng hiện ra trước mắt. Còn mình nóng tìm kiếm mà tâm cứ động hoài thì không bao giờ thấy Phật. Vì vậy cho nên mong rằng qua năm mới tất cả tăng ni phật tử chúng ta, kể cả tôi nữa, đều nỗ lực cố gắng tu hành. Mà tu hành ở đây không có nghĩa là chúng ta phải lậy một ngày vạn Phật hay là sám hối ngày mười thời, mà chúng ta phải đừng để tâm chạy theo cảnh. Tâm và cảnh được như như đó là yếu tố chúng ta không có phụ công ơn Phật, Tổ và các vị Thiện Trí Thức đã chỉ dậy chúng ta. Như vậy mới xứng đáng con giòng họ Thích, mới không hổ thẹn xưng ta là Thích Tử. Chứ còn để tâm rong ruổi theo vọng cảnh thì dẫu chúng ta thương Phật thế mấy cũng không gặp được Phật.
Thiền viện Chân Không, Vũng Tàu, Xuân Bính Dần, 1986.
http://www.thientongvietnam.net/kinhsach-thike/dirs/tintam/index-unicode.html
Ði đầu là thầy Phước Hảo trụ trì của tu viện. Ðoàn người lần bước trên những bậc thang bằng đá, tuy gồ ghề nhưng cũng dễ đi. Quang cảnh trên đây rất đẹp mắt và nên thơ, từ chỗ thất nhìn xuống thấy rõ khuôn viên của thiền viện. Xa xa phía dưới là thị xã Vũng tầu. Xa hơn nữa là biển cả với một bầu trời mênh mông bát ngát. Những ngọn đèn li ti của ghe thuyền đánh cá long lanh trong đêm chẳng khác nào hạt chuỗi kim cương.
Xin mời quý vị nghe bài giảng.
Nam Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật.
Ðể nhắc nhở quý vị năm mới về sự tu hành thì tôi sẽ nói một câu chuyện. Qua năm Bính Dần này quý vị tinh tấn tu hành đúng theo tinh thần Thiền Tông. Cho nên tôi sẽ nhắc và nói rõ về cái "Tín Tâm". Bởi vì tất cả người tu chúng ta, phần nhiều tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, mà ít có tin cái tâm của mình. Bởi vậy nên hôm này tôi nói thẳng về cái phương pháp hay là đường lối để làm sao mình nhận hiểu, tin được cái tâm của mình.
Vậy muốn "Tín Tâm", hỏi tâm là cái gì? Bởi vì xưa nay ai cũng hay nói: "Tôi không cần đi chùa, tôi chỉ tu tâm cũng được rồi." Nhưng mà tâm là gì để mà tu? Ðó là điều mà nhiều người muốn biết, nhưng không biết rõ. Hoặc trong lúc nói chuyện với nhau, người này bảo người kia rằng: "Tâm tôi nghĩ thế này, tâm tôi tính thế kia." Thì như vậy tâm là cái "nghĩ", "tính" hay là cái gì khác nữa? Ðúng ra chữ tâm theo nhà Phật có nghĩa là để chỉ cho cái "biết". Bởi vì biết nghĩ, biết tính, biết tốt, biết xấu, biết dở, biết hay, tóm lại mọi cái thuộc về lãnh vực biết đó đều gọi là tâm. Bởi vậy nếu mà chúng ta không phân biệt rành rẽ thì chúng ta chỉ thấy tâm là cái biết phân biệt mà quên tâm còn là cái biết thầm lặng, sáng suốt không có phân biệt. Do đó nên trong nhà Phật chia tâm ra làm nhiều thứ để giải thích. Ở đây, tôi tổng quát chia ra làm hai loại: Loại thứ nhất là Tâm Vọng, loại thứ hai là Tâm Chân.
Tâm Vọng là cái gì? Tức là những cái biết thuộc về suy nghĩ, thuộc về phân biệt. Ðó gọi là Tâm Vọng. Tâm là cái biết, mà cái biết có suy tính, cái biết phân biệt đó là động. Cho nên gọi là vọng. Vọng là dối chứ không có thật. Nó có rồi mất. Sinh rồi diệt, chứ không lâu cho nên mới là vọng. Còn cái biết mà thường hằng có, không đổi thay, bất sinh bất diệt (tức không động), không có tướng trạng thì gọi là Tâm Chân hay Chân Tâm. Thì như vậy, cái Tâm Chân thật đó là chỉ cho cái biết không bao giờ đổi thay, không bao giờ sinh diệt. Mà người đời chúng ta ai cũng chỉ nhận được cái biết, tức là cái biết suy tính về phân biệt, mà ít ai nhận được cái biết thầm lặng hằng còn mà không có sinh diệt. Bởi không nhận được điều đó nên chỉ biết cái tâm hư dối, cho là tâm thật; còn cái tâm chân thật lại quên đi.
Vì vậy cho nên trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Ðức Phật có dậy: "Này các Tỳ Kheo, các ông chớ nên tin cái tâm của các ông. Chỉ khi nào chứng A La Hán mới nên tin." Như vậy quý vị thấy, cái tâm đó là cái tâm hư dối, mà tin nó là không được. Bởi vì nó đổi thay, tức là sinh diệt. Mà tin cái đổi thay sinh diệt thì thế nào mình cũng bị biến đổi, bị sinh diệt. Khi chứng A La Hán thì cái tâm mới là cái biết. Cái biết đó không còn sinh diệt nữa. Vì vậy cho nên lúc đó mới đáng tin.
Ðức Phật muốn cho chúng ta đừng lầm lẫn hai cái tâm: tâm phân biệt hư dối và tâm lặng lẽ chân thật. Nếu mà chúng ta lấy cái hư dối mà cho là thật thì tự chúng ta bị lầm, bị mê, rồi đi trong sinh tử. Muốn biết rõ cái tâm chân thật thì phải làm sao? Bởi vì những vị tu ngộ đạo thì tự nhiên họ thấy, họ nhận ra. Còn nếu mà chưa ngộ đạo thì khó mà nhận ra, khó mà biết được. Thì giờ đây tôi chỉ y theo những lời dậy của Phật, của Tổ, để quý vị khả dĩ có thể nhận thấy được phần nào.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật thường dùng hình ảnh, Ngài nói rằng có một cái gọi là "Nhất tinh minh sinh lục hòa hợp". Tinh là ròng rặt, Minh là sáng suốt. Tức là cái sáng suốt một cách thuần túy đó, sinh ra sáu cái hòa hợp. Sáu cái hòa hợp là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tại sao gọi là sáu cái hòa hợp? Vì mắt mà muốn thấy thì phải có con mắt và có cảnh bên ngoài. Rồi cái thức theo đó mà phân biệt. Vì vậy cái biết của mắt phải do đủ duyên hòa hợp mới có. Còn cái ý suy nghĩ thì cũng có cái cảnh bên ngoài, có danh có tướng, rồi theo đó mà suy nghĩ. Ðó cũng là chạy theo duyên, theo cảnh. Nhưng mà trong cái chạy theo duyên theo cảnh đó, lại có cái ngầm ngầm, không theo mà chúng ta không thấy. Vì vậy cho nên chư Phật, chư Tổ luôn luôn bảo chúng ta phải khéo, đừng có lầm chạy theo cảnh mà phải thấy có cái thật ngầm ở trong đó.
Vì vậy cho nên chư thiền sư hay nói: Phải như con ngỗng chúa, khi uống sữa hòa với nước, thì chỉ uống sữa mà chừa nước lại. Chuyện đó là dễ hay khó? Cũng như vậy, ở sáu căn của mình, trong cái chỗ hòa hợp đó, mình phải làm sao nhận ra được cái thuần tuý, tinh anh mà đừng theo cái hư dối phân biệt. Ðó là cái khôn ngoan khéo léo mà mình phải làm. Cho nên người tu phải khéo nhận ra nơi mình có cái tinh minh sáng suốt. Cái sáng suốt đó phát ra ở sáu căn của mình gọi là sáu cái hòa hợp. Khi mắt nhìn cảnh, tai nghe tiếng, thì đừng có lệ thuộc vào cái sinh diệt bên ngoài, cái sinh diệt của vọng tâm. Mà nhờ sống được với cái chân tâm. Ðó là cái khôn ngoan như con ngỗng chúa uống sữa mà bỏ nước lại. Hình ảnh này trong kinh Lăng Nghiêm do các thiền sư diễn tả lại bằng hình thức lạ lùng. Mới nghe thì khó hiểu, nhưng đến lúc thâm nhập hiểu được thì lại rất là hay....
Hiểu như vậy mình mới thấy rằng từ Phật tới Tổ đều thấy rõ nơi mình có một cái chân thật. Rồi từ cái chân thật đó theo duyên mà phát ra sáu cửa. Bởi vậy cho nên có đủ tâm chân thật mà mình không nhận, không biết, lại tưởng như là không có.
Ðến chuyện một tổ sư Ấn Ðộ là ngài Ba la Ðề. Vua diện kiến hỏi ngài về Phậr Tánh. Ngài trả lời: "Nơi thai gọi là thân. Ở đời gọi là người. Nơi mắt gọi là thấy. Nơi tai gọi là nghe. Nơi mũi phân biệt các mùi. Nơi lưỡi đàm luận. Nơi tay nắm bắt. Nơi chân chạy nhẩy. Biến hiện thì khắp thế giới, thu lại thì chỉ trong hạt bụi. Người hiểu cho là Phật Tánh, người không hiểu gọi là tinh hồn." Quý vị thấy Ngài có dấu diếm không? Như vậy thì ở nơi tay, nơi mũi, nơi lưỡi ... đều có mang tính chất Phật. Nên trong kinh Pháp Hoa mới nói là "Tri Kiến Phật". Hiểu thì như con ngỗng chúa biết lọc sữa uống mà chừa nước lại. Không hiểu thì như mình uống luôn cả nước, lọc không được.
Chư Tổ đã trình bầy thật rõ ràng, không dấu diếm một chút nào. Nhưng vì chúng ta mê muội nhiều đơì nên nghe dường như hiểu, mà không sống theo được. Ðó là cái mê lầm muôn đời của chúng ta. Thiền sư Ðại An còn nói rất rõ là: "Cả thẩy các ngươi, mọi người đều có viên ngọc lớn vô giá. Từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ. Từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh tất cả âm thanh. Sáu cửa ngày đêm phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam muội. Các ngươi không biết lại nhận bóng trong thân tứ đại."
Nói chung là mình có một hòn ngọc quý. Nhà thiền gọi là hòn ngọc quý. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Nhất Tinh Minh. Nhất Tinh Minh hay là hòn ngọc quý là một, nhưng tuỳ theo cái duyên mà phóng ra sáu cửa. Khi nó phóng ra sáu cửa thì ở tai nhận lãnh âm thanh, ở mũi nhận lãnh mùi hương. Thì như vậy nó hằng phóng quang ra sáu cửa mà mình không biết. Bởi không biết cho nên mình nhận cái bóng trong thân tứ đại. Cái bóng tức là những cái vọng tưởng suy nghĩ. Khi suy nghĩ, chúng ta chỉ suy nghĩ được những cái đã nghe tên, đã thấy tướng. Còn những cái chưa nghe tên chưa thấy tướng thì suy nghĩ không được. Như vậy có danh có tướng là có cái bóng reo rắc vào tâm hồn mình, rồi từ cái bóng đó mình duyên theo đó mà khởi ra suy nghĩ. Như vậy nó là cái duyên cái bóng mà ta suy nghĩ chứ không phải thật.
Còn cái hằng nghe thấy thì có lúc nào vắng hay không? Cái thấy cái nghe bao giờ mà vắng mất. Nhưng suy nghĩ thì chỉ có khi nào duyên theo bóng của sự vật bên ngoài mới có cái nghĩ. Vì vậy cho nên nơi mình quên đi, mình không nhận được cái chân thật phóng ra từ sáu cửa đó. Mà chỉ nhận cái bóng ở trong thân tứ đại, tức là cái vọng tưởng của mình. Thì như vậy, tất cả chúng ta bây giờ sống bằng cái tinh thần hay cái tâm của mình? Nếu là cái tâm thì là cái tâm nào? Là cái tâm duyên theo bóng. Mà đã chạy theo bóng, duyên theo bóng thì đó không phải là thật. Mà mình cả ngày cứ sống theo cái bóng đó. Sống theo cái bóng không thật thì sẽ bị dẫn đi trong cái không thật, tức là đi trong sinh tử luân hồi, như mộng huyễn. Còn nếu mình sống chân thật thì cái vòng sinh tử luân hồi mộng huyễn không còn nữa. Ðó chính là cái gốc của sự tu.....
Chúng ta làm sao ứng dụng được những điều Phật tổ dậy dỗ để mình trở lại cái tâm chân thật của mình. Hãy nhớ cái thân này là tứ đại hòa hợp, cái tâm vọng tưởng đó là duyên theo bóng dáng sáu trần. Mà cái gì hợp thì cái đó phải tan, cái duyên theo bóng dáng là cái hư dối, cái sẽ tan và cái hư dối lại chấp thiệt là mình. Còn cái chưa bao giờ sinh diệt trùm cả hư không mà mình lại bỏ quên. Như vậy có chăng đúng như trong kinh Pháp Hoa mà nói chàng Cùng Tử lẽ ra nhận mình là con ông trưởng giả thì kho báu đầy nhà, mà lại không chịu nhận, đi hốt phân sống qua ngày. Hình ảnh đó mới nói lên cái tâm điên khùng của chúng ta. Có cái chân thật chúng ta có quyền hưởng trọn vẹn mà không chịu hưởng để rồi đi nhận một cái rất là tầm thường mà hài lòng, mà hãnh diện.
Như vậy những người chạy theo cái tầm thường mà lại hãnh diện thì ta thấy họ thật là đáng thương. Nếu họ ngồi ăn một mân cơm đầy những thứ cao lương mỹ vị thì khi mới nhìn thấy họ sang, họ ăn ngon. Nhưng mà lúc đầy bụng khó tiêu rồi mới thấy khổ, rồi một lát ra hôi hám, có gì đâu! Vậy mà hài lòng, vậy mà quý kính. Ðó thật là khờ dại. Còn cái chân thật thanh tịnh sẵn sàng đó mà lại bỏ quên. Như vậy chúng ta tu cốt là phải trở về cái chân thật đó, sống được với cái chân thật đó mới là biết đạo, mới thật là người tu. Chứ còn chạy theo cái bóng dáng bên ngoài, dù được bao nhiêu, dù hay bao nhiêu cũng là ảo ảnh mà thôị cái chân thật đó gọi là chân tâm hay là Phật Tánh....
Như vậy để thấy rằng chư Phật, chư Tổ đều chỉ rõ chỗ yếu điểm tu hành cho mình đó. Cái yếu điểm đó là tâm đừng chạy theo cảnh. Tâm không chạy theo cảnh thì tâm cảnh như như. Mà tâm cảnh như như thì đó là đạo bồ đề hiện tiền. Như vậy khi muốn thành Phật, Phật cũng hiện ra trước mắt. Còn mình nóng tìm kiếm mà tâm cứ động hoài thì không bao giờ thấy Phật. Vì vậy cho nên mong rằng qua năm mới tất cả tăng ni phật tử chúng ta, kể cả tôi nữa, đều nỗ lực cố gắng tu hành. Mà tu hành ở đây không có nghĩa là chúng ta phải lậy một ngày vạn Phật hay là sám hối ngày mười thời, mà chúng ta phải đừng để tâm chạy theo cảnh. Tâm và cảnh được như như đó là yếu tố chúng ta không có phụ công ơn Phật, Tổ và các vị Thiện Trí Thức đã chỉ dậy chúng ta. Như vậy mới xứng đáng con giòng họ Thích, mới không hổ thẹn xưng ta là Thích Tử. Chứ còn để tâm rong ruổi theo vọng cảnh thì dẫu chúng ta thương Phật thế mấy cũng không gặp được Phật.
Thiền viện Chân Không, Vũng Tàu, Xuân Bính Dần, 1986.
http://www.thientongvietnam.net/kinhsach-thike/dirs/tintam/index-unicode.html


